aoc benhtieudem.com.vn itsme f-idol.vn https://seotime.edu.vn/duoc-lieu-duoc-co-truyen.f38/ caodangvtc.edu.vn

Vietnamese Sexy Bae Group

mederma Vietnam chuyên phân phối và cung cấp sản phẩm vaganin strong cream chính hãng

1. Sốc chấn thương:

1.1. Định nghĩa:

Sốc là tình trạng suy sụp toàn thân kéo dài sau những chấn thương bỏng hoặc mổ sẻ lớn, biểu hiện rõ nét trên lâm sàng bằng sự suy sụp tuần hoàn, trong đó lưu lượng tim giảm, không cung cấp đủ oxy cho nhu cầu cơ thể.
Định nghĩa trên phân biệt sốc với những trường hợp tụt huyết áp tạm thời ví dụ trong mổ, gây tê tủy sống, sử dụng thuốc liệt hạch, thuốc liệt thần kinh trong gây mê, ngất…

1.2. Phân loại sốc chấn thương:

+ Theo nguyên nhân: – Sốc thần kinh phản xạ.
– Sốc mất máu.
– Sốc nhiễm độc v.v…
+ Theo thòi gian xuất hiện :

– Sốc tiên phát
– Sốc thứ phát
+ Dựa vào diễn biến lâm sàng:
– Sốc cương: Bệnh nhân trong tình trạng phản ứng kích thích, mạch nhanh, huyết áp tăng, thở tăng … Theo nhiều tác giả nhân thấy sốc cương thường xảy ra trong vòng 10 – 30 phút đầu. Tỷ lệ thường gặp khoảng 8 – 12% (Sraiber M.G). Có người cho sốc cương xảy ra ở hầu hết các thương binh nhưng mức độ phản ứng có khác nhau, đôi khi yếu quá người ta tưởng như không có (Petrov).
– Sốc nhược: Hệ thần kinh trung ương bị ức chế nên các phản ứng toàn thân cũng trong tình trạng suy giảm. Sốc nhược chia ra các mức độ sau.
• Độ 1: Huyết áp 90 – 100 mmHg, mạch 90 – 100 lần/phút, hệ thần kinh trung ương bị ức chế nhẹ, các phản xạ giảm.
• Độ 2: Huyết áp 80 – 90 mmHg, mạch 110 – 120 lần/phút, da xanh, thở nông. Thần kinh trong tình trạng ức chế.
• Độ 3: Huyết áp 60 – 70 mmHg, mạch trên 120 lần/phút, da xanh nhợt, ức chế nặng thần kinh, trí thức lơ mơ.
– Tình trạng tận cùng: là tình trạng nặng, trầm trọng, gây ra bởi nhiều nguyên nhân như giâp nát cơ và xương, chảy máu cấp, bỏng, ngạt thở, ngộ độc … Mặc dù nguyên nhân khác nhau nhưng biểu hiện lâm sàng giống nhau, tình trạng tân cùng được chia ra:
• Tiền hấp hối: tri thức bị rối loạn, không lấy được huyết áp, mạch chỉ sờ thấy ở các động mạch lớn (bẹn, cổ) thở nông và nhanh.
• Hấp hối: tri thức không còn, mạch và huyết áp chỉ không lấy được ở ngoại vi, rối loạn hô hấp nặng thở ngáp cá.
• Chết lâm sàng: ngừng tim, ngừng thở thòi gian kéo dài khoảng 5 phút, nếu không điều trị sẽ chuyển sang chết sinh vật.
– Sốc hồi phục và không hồi phục:
Vấn đề này rất quan trọng. Nếu quá trình thiếu oxy kéo dài sẽ gây những tổn thương không hồi phục, thể hiện trước tiên ở não sau đó ở tất cả các cơ quan khác. Quá trình này phụ thuộc vào việc cung cấp máu. Nếu huyết áp hạ thấp ở mức 60 – 70 mmHg kéo dài có thể dẫn tới tình trạng sốc không hồi phục. Theo nghiên cứu của Vasaze (1966) : nếu huyết áp ở mức 40 mmHg trong vòng trên 2 giờ, và HA ở mức 60 mmHg trong vòng 7 giờ thì sốc sẽ chuyển sang giai đoạn không hồi phục. Nếu huyết áp hạ thấp, thậm chí không lấy được nhưng điều trị đưa ngay huyết áp trở lại ngưỡng lọc bình thường của thận trong thời gian ngắn thì có thể tình trạng sốc không hồi phục sẽ không xảy ra.
Thực tế quá trình biến đổi không hồi phục ngoài huyết áp ra nó còn phụ thuộc cả vào tình trạng tổn thương của các cơ quan quan trọng nữa. Cho nên đánh giá quá trình sốc hổi phục hay không cần phải căn cứ vào tình trạng lâm sàng và tình trạng cụ thể tổn thương ở từng bệnh nhân .

2. Sốc nhiễm khuẩn:

2.1. Nguyên nhân:

Sốc nhiễm khuẩn (SNK) có thể do nhiều loại vi khuẩn gây ra, các trực khuẩn Gram âm thường gặp hơn cả (70%), nhưng sốc nhiễm khuẩn nặng lại thường do vi khuẩn gram dương. Hầu như người ta không gặp trạng thái sốc gây ra do nhiễm virus .
Gram dương (30%) Gram âm (70%)
Staphylococcus Escherichia Coli
Streptococcus Klebsiella
Pneumococcus Enterobacter
Clostridium perfringeus Pseudomonas
CloStridium tetani… Proteus…

2.2. Triệu chứng lâm sàng :

+ Hội chứng nhiễm khuẩn: sốt cao (380C), cơn rét run, hoặc hạ thân nhiệt (35,50C), số lượng bạch cầu tăng và chuyển trái. Cần lưu ý: nếu bạch cầu không tăng cũng không có nghĩa loại trừ SNK, giảm bạch cầu cũng có thể gặp trong một vài ngày đầu của SNK.
+ Rối loạn hô hấp: thở nhanh, thiếu oxy máu, kiềm hô hấp.
+ Rối loạn tuần hoàn: nhịp nhanh, tụt huyết áp động mạch, rối loạn vi tuần hoàn, da nổi “vân đá”, loạn nhịp tim.
+ Suy đa tạng:
– Suy giảm thận cấp: thiểu-vô niệu, ure, creatinine máu tăng
– Suy giảm chức năng gan: vàng da, tăng bilirubin máu không có tắc đưòng dẫn mật, rối loạn đông – chảy máu.
– Rối loạn thần kinh: kích thích vật vã, co giật, ý thức lơ mơ hoặc hôn mê.
– Hội chứng ARDS, hội chứng rối loạn đông máu.
Các bênh nhân sốc nhiễm khuẩn không thường xuyên có đầy đủ các triệu chứng kinh điển. Nếu có điều kiện nên đặt Catheter Swan-ganz có thể giúp cho chẩn đoán. Chẩn đoán SNK được khẳng định thêm nhờ sự có mặt của hiện tượng tăng huyết động (hyperhemodinamic), nếu chỉ số SVRI thấp nên đặt chẩn đoán SNK, còn SVRI cao thì hướng đến các thể sốc khác.
Cấy máu nên làm đều đặn ở những trường hợp có nghi ngờ SNK. Ở những bệnh nhân chưa được điều trị, cấy máu có tỷ lệ mọc vi khuẩn là 100% khi cấy 3 lần. Chú ý: vì lượng vi khuẩn trong máu thấp nên mỗi lần cấy máu cần lấy ít nhất 10ml máu (thậm chí 20-30ml). Mặc dù đã có những đề nghị không được cấy máu qua các Catheter đặt sẵn trong các tĩnh mạch, nhưng hiện nay người ta cho phép lấy máu như vậy (với độ nhạy 96% và độ đặc hiệu 98%). Các bước quy định cấy máu như sau: ngừng truyền các loại dịch; sát trùng nơi lấy máu bằng povidone iodine (betadin), sau đó là cồn 70o; 3ml máu đầu tiên phải bỏ đi.
Cấy nước tiểu và các chất dịch tiết khác cũng nên làm khi có chỉ định.

iệc sử dụng thuốc dựa vào Dược lý thời khắc tức là ảnh hưởng của nhịp thời gian đối với tác dụng sinh học của thuốc từ đó đưa ra được quyết định thời điểm dùng thuốc.

Ví Dụ: Thuốc điều trị tăng huyết áp nên uống vào buổi sáng vì sự tăng huyết áp thường hay xảy ra vào buổi trưa hoặc chiều. Thuốc giảm tiết HCl dịch vị để điều trị viêm loét dạ dày tá tràng nên uống vào buổi tối trước khi đi ngủ vì HCl tiết nhiều vào ban đêm.

– Các thuốc loại Corticoid nên uống vào buổi sáng khoảng 6-8 giờ vì đây là thời điểm mà nồng độ hydrocostison trong máu đạt cao nhất trong ngày. Uống lúc này sẽ không phá vỡ nhịp sinh lý hoạt động của tuyến thượng thận và ít gây hiện tượng ức chế trục dưới đồi- yên- thượng thận

Hướng dẫn dùng thuốc là bước giải thích cho bệnh nhân tác dụng của những thuốc có trong đơn. Trong trường hợp khi việc điều trị do bệnh nhân tự làm hoặc người nhà bệnh nhân trợ giúp thì phải giải thích cẩn thận cách thực hiện, giải thích tầm quan trọng: nếu không làm sẽ có nguy cơ gì để họ tự giác tuân thủ? Sau khi dặn dò phải kiểm tra xem người nghe đã hiểu chưa bằng cách bắt họ nhắc lại.

Đơn thuốc hay bệnh án chứa đựng những thông tin trên giấy của bác sĩ điều trị đối với bệnh nhân.Triển khai những thông tin này chính là hướng dẫn điều trị.

Có 2 nội dung cần hướng dẫn đó là:hướng dẫn dùng thuốc và hướng dẫn theo dõi điều trị.

  • Hướng dẫn dùng thuốc

  • là bước giải thích cho bệnh nhân tác dụng của những thuốc có trong đơn. Trong trường hợp khi việc điều trị do bệnh nhân tự làm hoặc người nhà bệnh nhân trợ giúp thì phải giải thích cẩn thận cách thực hiện, giải thích tầm quan trọng: nếu không làm sẽ có nguy cơ gì để họ tự giác tuân thủ? Sau khi dặn dò phải kiểm tra xem người nghe đã hiểu chưa bằng cách bắt họ nhắc lại.
  • Hướng dẫn theo dõi điều trị:

  • đây là bước giải thích và chỉ dẫn cho bệnh nhân hoặc người nhà bệnh nhân (trường hợp bệnh nhân nhỏ tuổi) qua đó nhận biết tiến triển tốt hoặc các dấu hiệu tiên lượng xấu, phải ngừng hoặc phải chuyển lên tuyến trên. Những nội dung chỉ dẫn có thể là:

+theo dõi sát để kịp thời phát hiện nếu bệnh nặng thêm

+nếu khỏi thì ngừng điều trị và căn dặn bệnh nhân các biện pháp để tránh tái phát.

+nếu bệnh đỡ thì phải tái khám để thay đổi cách thức điều trị.

+nếu bệnh không chuyển biến hoặc có xu hướng nặng thêm thì phải kiểm tra các khả năng sau: liều lượng có đủ không? bệnh nhân không tuân thủ điều trị? Thuốc chọn ko hợp lý? Phác đồ lựa chọn quá phức tạp?

-Như vậy việc hướng dẫn điều trị đóng vai trò rất quan trọng giúp cho điều trị thành công,đó cũng là nhiệm vụ của dược sĩ lâm sàng trong điều trị.

1.đi lại bị động

Là động tác tập được thực hành hoàn toàn dựa vào lực bên ko kể mà không sở hữu sự co cơ chủ động của bệnh nhân.

Tác dụng:

-hạn chế tối đa hình thành co rút bằng phương pháp duy trì tầm di chuyển khớp

-giảm hoặc ức chế đau

-giúp giai đoạn lành chứng bệnh sau chấn thương hoặc phẫu thuật

-duy trì sự nguyên vẹn của khớp

-tăng cảm nhận thụ thể bản thể

-duy trì độ dài thường ngày của cơ

Nguyên tắc:

-giữ vững khớp sắp và nâng đỡ các những phân đoạn xa

-cử động trong dừng ko dẫn đến đau

-cử động chậm và nhẹ nhàng

Chỉ định:

-cơ bị liệt hoặc vô cùng yếu hèn

-khi bệnh nhân chẳng thể chuyển động chủ động chi thể

-khi chuẩn bị cho kéo dãn

-khi đề xuất Tìm hiểu cấu tạo cơ, khớp

Chống chỉ định: chuyển di bị động ngăn trở giai đoạn bình phục

hai.Tập chủ động với giúp đỡ

Là động tác do người bệnh tự co cơ nhưng với sự viện trợ của người chữa trị hoặc công cụ cơ học.

Tác dụng: tăng thể trạng cho cơ, kích thích đối mang sự vẹn nguyên của xương, lập loại cử động điều hợp...

Nguyên tắc:

-chỉ trợ giúp vừa đủ, tránh dần giúp đỡ lúc trương lực cơ tăng

-diều hòa thông khí, tăng cung ứng tuần hoàn, hô hấp

Chỉ định: cho những yếu hèn cơ độ hai

3.Vận động chủ động ko giúp đỡ

Là động tác do chính người bệnh tự co cơ để thực hiện động tác mà không đề nghị trợ giúp

Tác dụng: vững mạnh Sức khỏe cho cơ, vững mạnh sự điều hợp và kỹ năng vận động...

Nguyên tắc:

-giải thích động tác cho bệnh nhân

-động tác tập không quá khó khăn

-kiểm soát lúc bệnh nhân tập để hạn chế cử động thay thế

tính năng cho cơ độ 3

Chống chủ trị lúc tinh trạng tim mạch người bệnh không ổn thỏa

4.Vận động mang kháng trở

Là động tác tập do chính người bệnh thực hiện sở hữu sức kháng trở của người chữa trị hay phương tiện

Tác dụng: tăng thể lực cho cơ, nâng cao sức bền và tăng công của cơ

Nguyên tắc:

-quan tâm tới góc, trọng lực, sức căng đối có cơ

-quan tâm đến lực đề kháng của bệnh nhân

-kiểm soát để hạn chế cử động thay thế

công năng cho cơ độ 4-5

Chống công năng bệnh nhân mang viêm nhiễm tại cơ hay khớp và đau ác ôn dội cơ, khớp sau 24 giờ tập

*thận trọng khi tập cho các trường hợp:

-bệnh nhân với căn bệnh tim mạch

-bệnh nhân mang nguy cơ cao

-loãng xương dễ gây gãy xương bệnh lí

-đau cơ do luyện tập

5.Tập kéo dãn

Là động tác tập tiêu dùng cử động đề xuất do người chữa trị hoặc phương tiện chữa trị, mang thể do người bệnh vận dụng các cơ đối kháng để thực hiện.

Tác dụng: đạt được tầm vận động bình thường của khớp, đi lại đơn vị mềm lòng vòng khớp, đề phòng co rút vĩnh viễn, tăng tính mềm dẻo chung cho phần cơ thể trước lúc tập mạnh tất cả cơ...

Nguyên tắc:

-không đề xuất khớp 1 bí quyết thụ động vướt qua tầm di chuyển thường ngày

-nếu đau kéo dài hay tránh tầm vận đông cần giảm thiểu lực hay thời kì chữa trị

-phải với thời kì bềnbir

-cơ được kéo phải thư giãn

-kéo từng khớp một

Chỉ định: lúc tầm di chuyển của khớp bị ngừng do mất đàn hồi của mô mềm

Chống công năng

-không kéo khi có đau cấp

-khi khối xương dừng chuyển động của khớp

-sau 1 gãy xương mới

-khi co cứng hoặc co ngắn mô mềm tạo sự ổn định tăng lên của khớp

-khi sở hữu viêm cấp tính hoặc nhiễm trùng trong và quanh co khớp

↑このページのトップヘ